NÚT THẮT XỬ LÝ PHẾ LIỆU TỒN ĐỌNG TẠI CẢNG - CÔNG TY TNHH LUẬT THẾ GIỚI LUẬT PHÁP

NÚT THẮT XỬ LÝ PHẾ LIỆU TỒN ĐỌNG TẠI CẢNG - CÔNG TY TNHH LUẬT THẾ GIỚI LUẬT PHÁP

NÚT THẮT XỬ LÝ PHẾ LIỆU TỒN ĐỌNG TẠI CẢNG - CÔNG TY TNHH LUẬT THẾ GIỚI LUẬT PHÁP

NÚT THẮT XỬ LÝ PHẾ LIỆU TỒN ĐỌNG TẠI CẢNG - CÔNG TY TNHH LUẬT THẾ GIỚI LUẬT PHÁP

NÚT THẮT XỬ LÝ PHẾ LIỆU TỒN ĐỌNG TẠI CẢNG - CÔNG TY TNHH LUẬT THẾ GIỚI LUẬT PHÁP
NÚT THẮT XỬ LÝ PHẾ LIỆU TỒN ĐỌNG TẠI CẢNG - CÔNG TY TNHH LUẬT THẾ GIỚI LUẬT PHÁP
  • DỊCH VỤ

    TƯ VẤN THƯỜNG XUYÊN

    TƯ VẤN THEO GIỜ

    TƯ VẤN TRỌN GÓI

    ĐÀO TẠO NỘI BỘ

NÚT THẮT XỬ LÝ PHẾ LIỆU TỒN ĐỌNG TẠI CẢNG

Nút thắt xử lý phế liệu tồn đọng tại cảng

LS. Phùng Thanh Sơn (*)
Thứ Tư,  6/11/2019, 10:00 

(TBKTSG) - Vấn đề xử lý phế liệu tồn đọng tại các cảng ở nước ta đang đặt ra nhiều "nút thắt" cần giải quyết một cách tích cực.

Hải quan "đau đầu" với phế liệu tồn cảng

503 container phế liệu không được nhập vào Việt Nam

Các cơ quan chức năng cần thắt chặt việc nhập khẩu phế liệu. Ảnh: Thành Hoa

Hãng tàu không có động lực xử lý

Theo Thông tư 203/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn xử lý hàng hóa tồn đọng thuộc địa bàn hoạt động hải quan thì người vận chuyển có trách nhiệm cung cấp thông tin về danh sách vận đơn quá 90 ngày, kể từ ngày hàng đến cửa khẩu nhập chưa có người nhận cho doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi để làm cơ sở theo dõi, tổng hợp tình hình hàng hóa tồn đọng.

Doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi, chủ kho ngoại quan, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính có trách nhiệm bố trí địa điểm cảng, kho, bãi đáp ứng điều kiện giám sát hải quan để lưu giữ, bảo quản hàng hóa tồn đọng trong thời gian chờ xử lý theo yêu cầu của cơ quan hải quan.

Xét ở góc độ điều kiện thông quan, thì hàng tồn đọng trong địa bàn hoạt động hải quan có thể chia làm hai dạng: hàng được phép nhập khẩu và hàng không được phép nhập khẩu. Đối với hàng được phép nhập khẩu thì việc xử lý hàng tồn đọng tuy quy trình xử lý hiện nay còn có bất cập nhưng về cơ bản vẫn có cơ chế để xử lý. Tuy nhiên, đối với hàng không được phép nhập khẩu, đặc biệt là hàng hóa gây ô nhiễm môi trường như phế liệu, rác thải công nghiệp thì việc xử lý đang là vấn đề nan giải.

Cũng theo Thông tư 203/2014/TT-BTC thì trách nhiệm xử lý hàng tồn đọng tại địa bàn hoạt động hải quan chủ yếu thuộc về Hội đồng Xử lý hàng tồn đọng do Cục trưởng Cục Hải quan thành lập. Phía người vận chuyển chỉ có trách nhiệm xử lý hàng tồn đọng đối với hàng hóa gây ô nhiễm môi trường bằng cách phải vận chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Chỉ khi nào không xác định được chủ phương tiện vận tải, người điều khiển phương tiện vận tải hoặc người được chủ phương tiện vận tải ủy quyền thì Hội đồng xử lý hàng tồn đọng mới xử lý bằng cách tiêu hủy (quy định tại điểm c khoản 2 điều 14 Thông tư 203/2014/TT-BTC).

Việc vận chuyển hàng được thực hiện bởi các hãng tàu. Và hầu hết các hãng tàu đều có đại lý tàu biển của họ tại Việt Nam. Do đó, việc không xác định được chủ phương tiện vận tải, người điều khiển phương tiện vận tải hoặc người được chủ phương tiện vận tải ủy quyền là chuyện hy hữu. Vì vậy, rất ít trường hợp Hội đồng xử lý hàng tồn đọng tiêu hủy hàng hóa gây ô nhiễm trên thực tế. Trách nhiệm “xử lý” đối với hàng hóa gây ô nhiễm thuộc về phía người vận chuyển.

Tuy nhiên, có nhiều lý do để các hãng tàu không muốn vận chuyển hàng ô nhiễm ra khỏi lãnh thổ Việt Nam: (i) các nước xuất khẩu trước đó không cho nhập khẩu phế liệu, hàng hóa đã qua sử dụng, hàng gây ô nhiễm. Và hậu quả là hãng tàu phải mất thêm chi phí vận chuyển, bốc xếp hai đầu, chi phí lưu kho, lưu bãi với giá cao ở nước xuất khẩu trước đây; (ii) các hãng tàu không có động lực để vận chuyển hàng tồn đọng ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Về mặt pháp lý, các hãng tàu sẽ phải chi trả chi phí lưu kho, lưu bãi cho doanh nghiệp kinh doanh kho, cảng... Nhưng trong hợp đồng vận chuyển, các hãng tàu bao giờ cũng có điều khoản ràng buộc người thuê vận chuyển bồi hoàn mọi chi phí lưu kho, lưu bãi, lưu container... mà hãng tàu đã bỏ ra thanh toán cho bên thứ ba. Nên trên thực tế, hãng tàu không hề bị thiệt hại từ việc tồn đọng hàng này.

Quy trình xử lý có thể mất nhiều năm

Cũng theo thông tư này, trừ những hàng hóa dễ hư hỏng, gần hết hạn sử dụng thì để có được phương án xử lý một lô hàng tồn đọng phải mất ít nhất là chín tháng, kể từ ngày hàng đến cảng Việt Nam. Thời gian này chỉ là thời gian để theo dõi, bảo quản hàng tồn đọng; lập báo cáo hàng tồn đọng; kiểm tra, xác minh, xác định thực tế hàng hóa; thông báo tìm chủ hàng; kiểm kê, phân loại, định giá hàng hóa tồn đọng; lập phê duyệt phương án xử lý hàng tồn đọng.

Thời gian này chưa bao gồm các khoản thời gian “chết” giữa các “công đoạn”, thời gian để phối kết hợp với cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành trong việc xử lý, tiêu hủy các hàng hóa nguy hiểm, nguy hại. Chưa kể trường hợp khi đã có phương án xử lý nhưng cơ quan quản lý chuyên ngành không có kinh phí để thực hiện. Do đó, thời gian để xử lý một lô hàng hóa bị tồn đọng tại cảng có thể mất nhiều năm.

Hàng hóa tồn đọng tại cảng không chỉ tăng gánh nặng chi phí cho các công ty logistics mà còn ảnh hưởng đến năng lực xếp dỡ của cảng của các doanh nghiệp kinh doanh kho bãi. Quy mô cảng, kho bãi thì có giới hạn nhưng phải lưu giữ, bảo quản hàng tồn đọng thì sẽ không còn đủ không gian và nguồn lực để tiếp nhận những hàng hóa thiết thực khác cho nền kinh tế.

Nếu giao thông được xem là huyết mạch của nền kinh tế thì hàng hóa có thể ví như là “máu” trong huyết mạch đó. Hàng tồn đọng tại cảng chính là các cục “máu đông” trong huyết mạch ấy. Nền kinh tế có thể bị “tai biến” nếu cục “máu đông” này hóa lớn, làm tắc nghẽn việc lưu thông hàng hóa của nền kinh tế.

Như đã nói trên, rất khó để hãng tàu vận chuyển phế liệu, rác thải, hàng đã qua sử dụng ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Tranh chấp phí lưu kho, lưu bãi không được xem là khiếu nại hàng hải theo Bộ luật Hàng hải nên các doanh nghiệp quản lý hàng tồn đọng không thể yêu cầu bắt giữ tàu để đảm bảo cho các khoản chi phí lưu kho chưa thanh toán.

Mặt khác, các hãng tàu vận chuyển nguyên container, nguyên seal nên họ không thể nào biết được và không có nghĩa vụ phải biết hàng thực tế bên trong có phù hợp với hóa đơn thương mại hay không. Các hãng tàu hoàn toàn không có lỗi nên cũng không thể áp dụng biện pháp bắt giữ tàu để gây áp lực cho hãng tàu vận chuyển rác thải, phế liệu ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Chưa có giải pháp khi chủ hàng không kê khai trung thực

Ngày 17-9-2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có Chỉ thị hỏa tốc số 27/CT-TTg chỉ thị một số giải pháp cấp bách tăng cường quản lý đối với hoạt động nhập khẩu và sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất. Theo đó, Thủ tướng chỉ đạo các bộ ngành tăng cường công tác quản lý việc nhập khẩu phế liệu dùng làm nguyên liệu sản xuất. Yêu cầu Bộ Giao thông Vận tải chỉ đạo các cơ quan liên quan thông báo cho các doanh nghiệp kinh doanh cảng biển, chủ tàu, chủ hãng vận tải biển chỉ được đưa xuống tàu để vận chuyển về Việt Nam những đơn hàng có giấy chứng nhận/giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu (còn hiệu lực) nhằm phòng ngừa việc vận chuyển phế liệu bất hợp pháp từ xa ngoài biên giới.

Chủ tàu, chủ hãng vận tải biển phải chịu trách nhiệm đối với lô hàng phế liệu đang vận chuyển của tổ chức, cá nhân không có giấy chứng nhận/giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu; doanh nghiệp kinh doanh cảng biển không cho hàng hóa dỡ xuống cảng biển Việt Nam khi chủ tàu và chủ hàng không xuất trình được giấy chứng nhận/giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất còn hiệu lực, hạn ngạch nhập khẩu và chưa thực hiện ký quỹ bảo đảm phế liệu nhập khẩu theo quy định; doanh nghiệp kinh doanh cảng biển phải chịu trách nhiệm về việc cho phép bốc dỡ các lô hàng phế liệu nhập khẩu nêu trên...

Theo người viết, những giải pháp này chỉ có tác dụng đối với các trường hợp người gửi hàng kê khai trung thực với hãng tàu. Đối với trường hợp người gửi hàng không kê khai trung thực, hàng hóa thực tế khác với hàng hóa trên chứng từ thì các hãng tàu cũng không thể biết và ngăn chặn được bởi các hãng tàu vận chuyển hàng nguyên container, nguyên seal, trừ khi tất cả hàng hóa đều được soi chiếu để kiểm tra trước khi đưa hàng xuống tàu.

Do đó, ngoài các giải pháp được đưa ra trong Chỉ thị 27/CT-TTG, để giảm lượng hàng tồn đọng tại cảng nói chung và phế liệu, rác thải công nghiệp nói riêng, pháp luật cần quy định theo hướng:

Thứ nhất, rút ngắn thời gian xử lý hàng tồn đọng bằng cách: quá thời hạn 30 ngày kể từ ngày hàng đến cảng nhưng chưa thông quan thì được xem là hàng tồn đọng chứ không phải 90 ngày như hiện nay. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho chủ hàng, luật cũng nên cho phép chủ hàng được nhận lại hàng bất kỳ thời điểm nào nếu hàng đó chưa bán hoặc tiêu hủy theo quy định. Các doanh nghiệp quản lý hàng tồn đọng phải báo cáo hàng tồn đọng cho chi cục hải quan hàng tháng chứ không phải hàng quí như hiện nay.

Rút ngắn thời gian thông báo tìm chủ hàng từ 60 ngày như hiện nay xuống còn 30 ngày; chúng ta không nhất thiết phải cho chủ hàng thời gian dài như thế vì hơn ai hết, chủ hàng luôn được các hãng tàu thông báo trước ngày hàng đến. Thành phần Hội đồng Xử lý hàng tồn đọng phải có đại diện của các cơ quan quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa nguy hiểm, nguy hại để đảm bảo việc kiểm tra, phân loại và lên phương án xử lý phù hợp, chính xác ngay từ đầu;

Thứ hai, quy định nghĩa vụ xử lý hàng hóa gây ô nhiễm của Hội đồng Xử lý hàng tồn đọng nếu các hãng tàu không vận chuyển hàng hóa đó ra khỏi lãnh thổ Việt Nam trong một thời hạn luật định để tránh việc bế tắc như hiện nay;

Thứ ba, pháp luật cũng cần phải quy định một cách minh thị rằng xử lý hàng tồn đọng tại địa bàn hoạt động hải quan là nghĩa vụ của cơ quan hải quan, của Hội đồng Xử lý hàng tồn đọng. Khi có yêu cầu từ các doanh nghiệp quản lý hàng tồn đọng, người vận chuyển hoặc các doanh nghiệp giao nhận, Hội đồng Xử lý hàng tồn đọng có nghĩa vụ phải xử lý trong thời hạn luật định.

Và để đảm bảo việc xử lý này được thực hiện một cách tích cực trên thực tế, pháp luật cần quy định chế tài cho những tổ chức, cá nhân liên quan nếu chậm trễ trong việc xử lý hàng tồn đọng.

Và trên tất cả, để Việt Nam không trở thành bãi rác hoặc nhà máy xử lý rác thải của các nước, trước mắt, các cơ quan chức năng cần thắt chặt việc nhập khẩu phế liệu như giảm tối đa loại phế liệu được phép nhập và nâng cao quy chuẩn quốc gia về nhập khẩu phế liệu. Thắt chặt điều kiện cấp phép nhập khẩu phế liệu và mở rộng các trường hợp từ chối hoặc tước giấy phép nhập khẩu phế liệu. 

(*) Công ty Thế Giới Luật Pháp, Đoàn Luật sư TPHCM

Bài viết khác

backtop